Đất Hương Sơn thuở khai thiên lập địa.
22:43 02/04/2021
Hương Sơn là vùng đất đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau. Thời Bắc thuộc gọi là quận Cửu Đức, từ thời Tam Quốc cho đến thời Đường có các tên gọi là Dương Thành, Dương Toại, Phố Dương. Đến thời Lý, Trần, Hồ, thuộc Minh có tên gọi là Hương Đỗ Gia, huyện Cổ Đỗ, huyện Đỗ Gia. Năm Kỷ Sửu (1649) niên hiệu Quang Thuận thứ 10 được đổi thành huyện Hương Sơn.

Những bãi bồi vên sông Ngàn Phố

Từ thuở khai thiên lập địa Hương Sơn là vùng đất bạt ngàn rừng già với hệ sinh thái phong phú, đa dạng (có nhiều gỗ quý như: lim, dỗi, táu, kền kền… nhiều động vật quý như: voi, hổ, báo. v.v…). Ban đầu cư dân ở đây chỉ có một ít người kinh thưa thớt lúc bấy giờ gọi là người Giao Chỉ, (người có "Hai ngón chân cái giao vào nhau nên gọi là giao chỉ") cùng với một phần lãnh thổ của Châu Ngọc Ma có người Thái ở vùng rừng núi Kim Cương, nước Sốt (ở các xã Sơn Kim) xen lẫn với người Lào, người Vân Kiều, người Chân Lạp, vì thế đến ngày nay trong dân gian vẫn còn dùng tiếng can ( để chỉ tiếng anh, tiếng cậu ) tiếng xà lỳ ( tiếng gọi của cây ngô ).

Trải qua các thời kỳ biến động của lịch sử cư dân từ các vùng sông Hồng, sông Mã, sông Cả ở phía Bắc đã tràn vào vùng đất này để sinh sống, những cư dân đầu tiên đến đây bằng thuyền trên sông Ngàn phố. Dần dần do nhu cầu cuộc sống họ lên bờ và định cư ở dưới chân đồi, chân núi để vừa tránh lũ lụt, vừa có điều kiện để chinh  phục đất hoang, tạo ra những cánh rừng trồng trọt, từ đó họ cùng nhau sinh sống trong một cộng đồng gọi là hương và bắt đầu có tên gọi Hương Đỗ Gia. Sử sách còn để lại thì hương Đỗ Gia được xác định bao gồm các làng Bảo Thịnh, Yên Đồng, Lạc Bồ, Dương Trai, Cà Mỵ, Xa Lang (nay thuộc các xã Sơn Bình,Tân Mỹ Hà). Lúc bấy giờ phần lớn đàn ông mặc khố, đàn bà mặc Mấn (một loại váy bằng vải thô sơ). Ở mỗi làng có một giếng khơi cả làng cùng dùng chung, giếng có đường kính khoảng 10 mét, nước trong xanh, có cây đa bóng mát, ở đây chiều chiều dân trong làng tụ tập để hóng gió mát trò chuyện vui vẻ. Cuộc sống của cư dân dần dần sinh sôi nẩy nở và từng bước lớn mạnh, họ bắt đầu tiến hành một cuộc trường chinh lấn núi, lấn rừng để làm nương rẫy trồng lúa, ngô đã tạo nên một nền văn hóa nương rẫy và đã hình thành các điểm tụ cư, các cụm dân cư, những xóm làng ở ven sườn đồi, trên núi và hình thành nên các làng cổ. Hiện nay ở Hương Sơn ở các xã còn có các vùng được gọi là “kẻ”: kẻ Trảy, kẻ Trúa, kể Đọng (ở Sơn Tiến): kẻ Mõ, kẻ Mui (ở ở Sơn Trung); kẻ Éo, kẻ Rái (ở Sơn Lễ); kẻ Sét (ở Sơn Ninh); kẻ E, kẻ Chéo (ở An Hòa Thịnh); kẻ De (ở Sơn Hàm); kẻ Tàng, kẻ Ác (ở Sơn Long); kẻ Quát (ở Sơn Giang). Đây là những tên làng Việt cổ mà qua tìm hiểu thì từ “kẻ” chỉ có ở vùng hạ Hương Sơn từ Sơn Hàm, Sơn Giang trở xuống.

Nhà ở của cư dân ven các triền núi (ảnh minh họa)

Quá trình lấn núi để làm nương rẫy trồng lúa, ngô là một quá trình liên tục đã tạo nên một nền văn hóa nương rẫy với nhiều dấu tích còn để lại. Ngày nay ở xã Sơn Phú còn có thôn Cửa Nương đây là dấu tích của cư dân khai phá núi, rừng làm nương rẫy và lập nên cụm dân cư trước cửa đi vào nương rẫy nên gọi là thôn Cửa Nương. Cho đến những năm 1970, 1980 của thế kỷ 20 trên địa bàn Hương Sơn còn duy trì việc đi “phở đất” “làm rày” để trỉa lúa, trỉa lạc trên nương. Trong quá trình lấn núi, lấn rừng để làm nương rẫy đã hình thành nên các điểm tụ cư có các tên gọi như: Trị Yên, Tiên Bì (Sơn Thủy), Phúc Đậu (Sơn Phúc), Thủy Mai (Sơn Mai), Dương Trai (Sơn Bình), Lệ Định (Sơn Lễ).v.v... Ở xã Sơn Bằng có một cánh đồng gọi là ruộng Săng đây là dấu vết của một đồi tranh săng được nhân dân cổ xưa đốt để làm nương rẫy. Vùng khai hoang của cha con Trạng nguyên Sử Hy Nhan, Sử Đức Huy ở Trại Đầu - Kẻ Tàng (nay là xã Ân Phú, Sơn Long).

Cùng với quá trình lấn núi là quá trình khai phá đầm lầy lập ra những cánh đồng lúa nước. Với địa thế là những “Thung lũng” cư đân nơi đây đã liên tục khai phá đầm lầy để trồng lúa nước như ở đồng Năn ở xã Sơn Bằng ( do bãi đầm này có nhiều năn, lắm lác ), ruộng nẩy ở Tràng Sim ( “ nẩy gọi là đầm lầy ”), hay bàu Cốc ở làng Phúc Đậu (xã Sơn Phúc).v.v…

Vào đầu thế kỷ 20, cuộc trường kỳ lấn núi, lấn rừng lập thôn xóm, mở mang ruộng vườn đã được người Pháp tiến hành khai thác thuộc địa làn thứ nhất tiến vào vùng đất Hương Sơn ở vùng thượng huyện (Thời kỳ này tại Hà Tĩnh có 19 đồn điền thì ở Hương Sơn có 4 đồn điền lớn như: Ferey (Fe rây) ở Song Con, Bordet (Bócde) ở Hà Tân; Coudoux (Cu đúc) ở Voi Bổ. Sau này Coudoux (Cu đúc) chuyển sang NaSa là Công ty Tư bản Pháp lập đồn điền và công trường khai thác gỗ, mở ra một cung cách làm ăn lớn.

Cùng với việc làm nương rẫy, trồng lúa nước cư dân nơi đây đã mở rộng việc  làm vườn. Vườn Hương Sơn có từ lâu đời. Buổi đầu, đất rộng, người thưa, ai có sức thì bao chiếm, khai phá thoải mái. Một khu vườn và một ngọn đồi, cây cối, tre pheo rậm rạp bên các dòng khe, suối có măng tre, nứa, nước ngọt tự nhiên.

Rừng già nguyên sinh của vùng đất Hương Sơn

Đầu thế kỷ XIX thì vườn Hương Sơn chủ yếu là vườn nhân tạo. Vườn cho nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân với nhiều loại cây trồng quen thuộc: cau, trầu, chè, chuối, cam, bưởi, mít và nhiều loại cây đặc sản khác.  Ngoài vườn còn có “trại” chăn nuôi nhỏ với đàn gia súc, gia cầm phong phú. Nghề nuôi hươu ở Hương Sơn có từ khoảng cuối thế kỷ XIX là loài động vật hoang dã trước đây được người dân săn bắt về làm thịt sau đó một số người dân nuôi làm sinh vật cảnh, chủ yếu là người giàu có nuôi làm “Vui thú điền viên” sau này thấy nhung hươu là loài thuốc tốt bổ dưỡng nên nghề nuôi hươu ngày càng phát triển. Nổi tiếng là ông Kính, cụ Ký, cụ Nhạn ở Sơn Giang; ông Mục Chung ở Sơn Châu là những người nuôi hươu nổi tiếng và làng nghề mộc Xa Lang cũng được hình thành và phát triển. Xa Lang là vùng đất Sơn Tân có làng mộc rất tinh xảo, khéo léo và có thẩm mỹ sâu sắc nổi tiếng là các ông: Cả Mền, Phó Xuân, Phó Thảnh.

Tương truyền: Cả Mền (1868 – 1933) là thợ cả tài hoa được thừa hưởng từ tổ nghiệp họ trần ở Xa Lang. Đôi bàn tay vàng của ông được in dấu ở đình Trung Cần, đình Hoành Sơn, Khiêm cung lăng vua Tự Đức …. Đền thánh (huyện đường Đỗ Gia cũ, nay là xã Sơn Tân Mỹ Hà).

Sự hình thành và phát triển dân cư, cộng đồng làng xã trên vùng đất Hương Sơn cho thấy đây là một vùng đất cổ và có truyền thống từ lâu đời./.

Lê Nhật Tân

Ý kiến bạn đọc